Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục sớm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo dục sớm. Hiển thị tất cả bài đăng

TÓM TẮT NỘI DUNG

0-3 TUỔI LÀ NỀN MÓNG GIÚP TRẺ XÂY DỰNG LÒNG TỰ TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN

Đây là yếu tố nền móng để giúp trẻ có động lực học tập, phát triển nhân cách tốt sau này. Và muốn vậy thì giai đoạn này hãy yêu thương và chiều chuộng (không phải nuông chiều) những nũng nịu mang tính tâm lí như ôm ấp, khen ngợi…sẽ giúp trẻ có tự tin để đi đến giai đoạn tự lập. Điều quan trọng ở giai đoạn này để trẻ được nuôi dưỡng trong một môi trường đầy tình yêu thương, trẻ có một tâm hồn khỏe khoắn.

4-6 TUỔI LÀ GIAI ĐOẠN UỐN NẮN VÀ DẠY DỖ

Giai đoạn này khi trẻ đã nhận được đầy đủ tình yêu thương, chiều chuộng sẽ muốn được tự lập, được phát huy về cá tính riêng. Lúc này hãy lần lượt dạy trẻ những qui tắc ứng xử trong gia đình, nơi công cộng, mối quan hệ với người khác…

TỪ 7 TUỔI LÀ HỌC TẬP

Khi trẻ có nền tảng vững chắc về lòng tự tin, khả năng tự đánh giá bản thân thì lúc này việc học của trẻ sẽ trở nên chủ động chứ không phải là bị bắt ép.

“TỰ ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN”

chính là hiểu được giá trị tồn tại của bản thân, tự tin và sống có mục đích. Vì sao giao đoạn này lại quan trọng đến vậy? Cha mẹ muốn dạy con mình học chữ, muốn con phát huy khả năng trí tuệ, muốn uốn nắn con tự lập theo như những tài liệu đã tham khảo về phương pháp nuôi dạy con sớm nhưng lại không thành công vì gặp phải sự phản kháng từ trẻ. Nguyên nhân chính là bởi vì trẻ đã thiếu khả năng tự đánh giá bản thân để làm động lực cho ham muốn học tập và nghe theo lời cha mẹ. Muốn trẻ phát huy sự tự tin và khả năng tự đánh giá bản thân thì bước đầu tiên là hãy cho trẻ cảm thấy rằng trẻ là người quan trọng đối với cha mẹ, từ đó trẻ sẽ hiểu được ý nghĩ của cuộc sống. Muốn cho trẻ thấy điều đó thì không gì khác ngoài bốn từ “ôm ấp”, “trò chuyện”, “kiễn nhẫn” và “khen ngợi”.

Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp giáo dục sớm dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria Montessori (1870–1952). Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào việc học qua cảm giác. Bà tập trung phát triển năm lĩnh vực: Giác quan, kỹ năng cuộc sống, ngôn ngữ, toán, địa lý và văn hóa. Phương pháp Montessori được áp dụng rộng rãi trên thế giới và thu được nhiều thành tựu, đặc biệt ở các nước Mỹ, Nhật, châu Âu…

Nhưng phương pháp này cũng có những ưu và nhược điểm của nó.
1. Ưu điểm
Bộ trò chơi phát triển năng lực
Montessori phát triển bộ giáo cụ để phát triển năm lĩnh vực: giác quan, kỹ năng cuộc sống, ngôn ngữ, toán, địa lý và văn hóa. Bộ giáo cụ này bao gồm 134 trò chơi khác nhau dành cho trẻ. Các trò chơi này được thiết kế để trẻ tự chơi và tự kiểm chứng kết quả công việc của mình (ví dụ bộ xếp hình bản đồ thế giới, nếu các mảnh ghép chưa khớp lại được với nhau, trẻ tự biết là mình chưa xếp đúng).
Giáo viên được đào tạo để hiểu rõ ý nghĩa của mỗi trò chơi, quy trình và cách giải thích cho trẻ. Trong giờ học, trẻ tự lựa chọn trò chơi cho mình – mỗi trò nhằm phát triển một hay một vài trong số năm lĩnh vực trên. Nếu trẻ gặp khó khăn, giáo viên sẽ đưa ra chỉ dẫn hợp lý cho trẻ.
Đây là video giới thiệu các hoạt động trong giờ học của trẻ: http://www.youtube.com/watch?v=OM1Gu9KXVkk
Tự lập
Montessori cho rằng trẻ em cần và muốn được tự mình lo lấy các việc cá nhân. Người lớn chúng ta đang “phục vụ” trẻ em quá nhiều, trong khi nên nhớ rằng nếu trẻ không được làm cái gì, chúng sẽ không biết làm cái ấy. Tại sao trẻ không được tập dọn đồ ăn cho bản thân mình chỉ vì nỗi sợ của người lớn là chúng sẽ đánh đổ bát đĩa? Với niềm tin trên, Montessori khuyến khích giáo viên/bố mẹ tạo cơ hội cho trẻ được làm mọi thứ trong khả năng, đồng thời cũng giao trách nhiệm cho các cô bé cậu bé giữ gìn lớp học luôn sạch sẽ và gọn gàng như vốn có.
Bà nhấn mạnh trẻ con là một nhân vị (một cá nhân được tôn trọng như người lớn) nên trẻ có thể tự làm mọi thứ chăm sóc bản thân. Trẻ thấy mình được tôn trọng, tự làm mọi thứ như người lớn còn bố mẹ nhàn hạ hơn. Montessori tập trung một lĩnh vực riêng để phát triển kỹ năng này của trẻ con là kỹ năng cuộc sống. Trong đó bao gồm hết các kỹ năng cơ bản mà khi trẻ 6 tuổi chúng có thể làm thuần thục không cần bố mẹ tác động: vệ sinh hàng ngày, giúp bố mẹ việc nhà, bảo vệ môi trường, lao động công ích… Có lẽ giờ bạn đã hiểu vì sao trẻ con nước ngoài lại tự lập được như thế nhỉ? Chúng có thể sáng tạo ra một dụng cụ, tự lập công ty, bán báo… từ khi còn rất nhỏ.
Tập trung
Khi áp dụng Montessori bạn sẽ thấy các trò chơi và dụng cụ cho trẻ không chỉ là chơi đơn thuần, chúng đều là vui chơi có mục đích và đều rèn sự tập trung cao độ. Ví dụ như trò xúc hạt, trò xâu hạt, rót nước, xếp tháp… bạn sẽ thấy trẻ chơi một cách say mê, chúng bị cuốn hút vào các trò chơi, và tập trung vào trò chơi đó một cách tự nhiên không gượng ép. Từ đó hình thành dần sự tập trung cao độ.
Trẻ phát triển não phải thông qua năm giác quan
Như đã nói ở trên, Montessori phát triển năm lĩnh vực và đều dùng học cụ để chơi. Khi chơi trẻ phải dùng cả 5 giác quan của mình với sự thích thú khám phá rất tự nhiên. Bạn cũng biết, não của chúng ta là một bộ phận cơ thể nên cơ chế của chúng cũng không nằm ngoài quy luật: Nếu dùng nhiều, dùng thường xuyên thì nó sẽ phát triển. Trong giai đoạn vàng, trẻ nhận được càng nhiều kích thích lên não bộ thì não càng phát triển, từ đó trẻ càng thông minh, lanh lợi, hiểu chuyện, sớm phát triển sự tinh tế và óc thẩm mỹ.
Mỗi một bài học của Montessori, đôi khi rất đơn giản mà bạn có thể làm ở nhà cho bé. Đơn giản tới mức ngày xưa chúng ta thường bị cấm chơi vì nghịch bẩn làm bố mẹ phải dọn. Thế nhưng với Montessori chúng đều có mục đích học tập trong đó. Ví dụ: Trò chơi nghịch nước, bạn cho rằng chơi vậy vô bổ, nghịch nước ướt quần áo, lại phải thay, lại phải giặt. Với Montessori nói riêng và khoa học giáo dục sớm nói chung phản đối điều này. Trẻ cần được vui chơi tối đa trong khuôn khổ an toàn. Nghịch nước có thể biến thành bài học rót nước trong Montessori, trẻ vừa được chơi nước, vừa luyện cách cầm bình (cầm nắm), luyện lực cổ tay (nhấc bình lên rót nước vào bình còn lại), và sự chỉnh chu, ngăn nắp (chơi xong lau nước vãi, cất đồ về chỗ cũ). Tất cả những kích thích đó đều tác động lên não trẻ. Đó chẳng phải là những kỹ năng và bài học rất ý nghĩa hay sao!
Phát triển não trái bằng những bài học tư duy
Trong giai đoạn vàng của đại não, hai não phải được kích thích đều thì trẻ mới phát triển toàn diện được. Phát triển não phải cần phải phát triển cả não trái. Não trái là tư duy logic, suy luận, tổng hợp.
Những bài học của Montessori có nhiều bài áp dụng phương pháp thử và sai. Trẻ nhìn bố mẹ làm một lần rồi tự làm, sai thì thử kiểu khác, làm tới đúng thì thôi, Bố mẹ chỉ gợi ý, không làm cho trẻ, không cầm tay chỉ việc. Qua những lần thử và sai đó, trẻ tự rút ra được kinh nghiệm, quy luật của trò chơi, bản chất của vấn đề, từ đó phát triển não trái của trẻ.
Trẻ hiểu bản chất vấn đề chứ không học vẹt
Điển hình của việc này là toán học trong Montessori. Trẻ sẽ được làm quen dần các khái niệm từ số đếm đến số học từ giáo cụ. Sau nhiều lần chơi với giáo cụ trẻ sẽ tự rút ra bản chất và quy luật của số học (số thập phân, phân số, số chẵn, số lẻ…), phép tính (cộng, trừ, nhân, chia hàng đơn vị tới hàng nghìn), … Trẻ học một cách tự nhiên, tự chúng khám phá nên chúng rất thích và say mê.
Ví dụ bài học về số chẵn, lẻ mà chúng tôi đã đăng tải. Nếu bây giờ cho bạn giải thích thế nào là số chẵn, số lẻ với bé bạn giải thích thế nào? Ngày xưa khi đi học cô giáo cũng chỉ giảng cho chúng ta khái niệm chẵn, lẻ và chúng ta mặc định là như thế. Trong Montessori, bà giải thích bằng giáo cụ. Ví dụ nói đơn giản, số chẵn là khi bạn xếp các chấm thành hai hàng bằng nhau thì là số chẵn, còn nếu hai hàng không bằng nhau thì là số lẻ.
Rèn tính cách, không chỉ có  kiến thức khoa học.
Cách cư xử là một vấn đề được rèn luyện nhiều trong Montessori. Như đã nói ở trên, ngoài tính tự lập và tập trung, trẻ sẽ học được tính ngăn nắp, kiên nhẫn, quy chuẩn và kìm chế. Mỗi bài học Montessori cần theo đúng các bước vạch sẵn, chơi xong xếp giáo cụ về đúng vị trí và lau dọn, làm một lần chưa được thì hai lần, ba lần, n lần. Phương pháp thử và sai (bé tự làm, sai làm lại, bố mẹ không tác động) giúp trẻ kiên nhân và kìm chế. Thông thường trẻ không được làm hài lòng (như mở mãi không được nắp hộp) sẽ la hét, cáu gắt nhưng với trẻ học Montessori, các bé thường kiên nhẫn làm đi làm lại, làm đẹp thì thôi, đẹp rồi tự xếp thành cái khác.
 2. Nhược điểm
Bà không đề cao sự tương tác cá nhân.
Với trẻ khả năng giao tiếp là một yếu tốt quan trọng giúp trẻ phát triển. Trẻ nào cũng cần được chơi và thích chơi với các bạn. Nhưng các bài tập Montessori thường chú trọng vào cá nhân trẻ mà ít có yếu tố tương tác nhóm trẻ với nhau. Điều này cần được khắc phục. Ngoài giờ học chơi Montessori, trẻ nên được vận động, chơi đùa với các bạn.
Ngoài ra Montessori không chú trọng vào trí tưởng tượng
Bà cho rằng tưởng tượng chỉ làm trẻ xa rời thực tế. Các bài học của Montessori đều chơi qua giáo cụ nên trẻ ít phát huy được trí tưởng tượng. Vì vậy ngoài việc áp dụng Montessori cần bổ sung thêm các hoạt động làm phong phú cho trí tưởng tượng.
Trên đây là quan điểm của chúng tôi về ưu và nhược của Montessori. Bất cứ phương pháp nào cũng có ưu và nhược điểm, vì vậy áp dụng nhiều phương pháp, phát triển đồng thời cả hai bán cầu não là phương thức giáo dục sớm giúp trẻ phát triển toàn diện.

Phương pháp Montessori là một trong những phương pháp hay trong việc giáo dục và dạy trẻ những kỹ năng quan trọng cần thiết trong cuộc sống. Vậy, phương pháp này đã đang và sẽ dựa trên những nguyên tắc nào? Ta cùng tìm hiều nhé.

1. Nguyên tắc ĐƠN GIẢN: Bạn cần nhớ, đối với trẻ, mọi thứ càng đơn giản càng giúp trẻ hiểu một cách nhanh nhất và sâu sắc nhất. Ví dụ khi trẻ đưa ra các câu hỏi Tại sao?, bạn cần giải thích với các từ dễ hiểu và đơn giản nhất, hay khi bạn muốn dạy trẻ về một điều gì đó hãy đi thẳng vào vấn đề, đừng nói dài dòng hay vòng vo, sẽ khiến trẻ rất khó hiểu. Ví dụ như khi bạn mua một bộ chữ cái về, và các chữ cái có màu khác nhau. Nếu bạn muốn dạy con về chữ, chỉ tập trung đọc tên chữ cái cho con nghe, không nên nói: chữ A màu vàng, chữ B màu xanh…Bạn nghĩ như vậy sẽ dạy kết hợp cả 2 khiến trẻ vừa nhớ chữ, vừa nhớ màu, nhưng như vậy là SAI LẦM.

2. Nguyên tắc BÌNH TĨNH: Nếu bạn tiếp xúc với trẻ giai đoạn từ 2-3 tuổi, chắc chắn bạn sẽ có lúc stress nặng, bạn cảm thấy không thể kiên nhẫn. Nhưng giữ bình tĩnh là nguyên tắc vô cùng quan trọng để bạn có thể dạy và hiểu được trẻ. Chúng ta thường xuyên giục trẻ: nhanh lên, hay thấy con tự đi dép lâu là làm giúp con ngay. Như vậy thì con cái sẽ không thể trưởng thành được, lúc này bạn chỉ cần bình tĩnh, kiên nhẫn và chờ đợi. Hay khi trẻ 2 tuổi không dọn đồ chơi về chỗ cũ, càng sai trẻ càng lờ đi, mẹ hãy bình tĩnh và dọn một vài đồ làm mẫu trước, trẻ có thể sẽ ngay lập tức đòi cất lại đồ mẹ đã cất, như vậy con cũng đã học được cách dọn đồ, qua thời gian trẻ sẽ hình thành thói quen ngăn nắp. Đừng nóng vội khi nuôi dạy con, đó là tối hậu thư dành cho các bậc cha mẹ.

3.Không có PHẦN THƯỞNG hay SỰ TRỪNG PHẠT: Chúng ta qua nhiều thế hệ đã quen với cách dạy là có phần thưởng hay sự trừng phạt, điều đó được ăn sâu từ gia đình tới trường học. Ví dụ nếu con được điểm 10 thì mẹ sẽ thưởng gì, còn điểm kém sẽ bị phạt. Hay vì con nghịch bẩn ra nhà nên mẹ sẽ phạt con úp mặt vào tường…Hãy từ bỏ thói quen đó khi bạn dạy con. Đối với trẻ phần thưởng hay sự trừng phạt không hề tác động tới sự phát triển về mặt nhận thức nhiều, điều quan trọng là phải giải thích một cách logic về những việc trẻ làm sẽ tạo ra kết quả như thế nào. Cụ thể là nếu con làm bẩn ra nhà thì con cần phải tự dọn dẹp lại, đó là kết quả do con tạo ra, và con phải chịu trách nhiệm.




4. Hãy để con TẬP TRUNG : Khi trẻ làm việc gì đó, cha mẹ nên quan sát và tránh ngắt quãng hay xen vào vội vàng, như vậy sẽ làm ảnh hưởng tới tính tập trung của trẻ.

5. Nguyên tắc: NGHE-QUÊN, NHÌN-NHỚ, LÀM-HIỂU. Hãy để trẻ thực hành một cách tối đa, học qua phương pháp thực hành.

Đó là 5 nguyên tắc trong số các nguyên tắc áp dụng khi dạy trẻ theo Phương pháp Montessori. Hãy kiên nhẫn và áp dụng, sẽ có một ngày con bạn sẽ khiến bạn ngạc nhiên!

Nguồn: Dayconkieunhatdotcom


Chương trình GIÁO DỤC SỚM 0 TUỔI gồm 8 lĩnh vực phát triển toàn diện cho trẻ, được thiết kế dựa trên 56 Chỉ số phát triển quan trọng (Key Developmental Indicators) xác định các mục tiêu học tập cơ bản đối với trẻ nhỏ.
  

1. LĨNH VỰC NGÔN NGỮ: TIẾNG VIỆT - TIẾNG ANH
Chương trình GIÁO DỤC SỚM 0 TUỔI xem việc nhận biết mặt chữ và đọc hiểu là một phần trong quá trình bồi dưỡng "ngôn ngữ thị giác" (ngôn ngữ viết) song song với việc phát triển "ngôn ngữ thính giác" (ngôn ngữ nói), nghĩa là dạy trẻ nghe và nói. Trẻ học được các quy tắc trong giao tiếp, có khả năng diễn đạt rõ ràng các cảm xúc, ý tưởng, suy nghĩ của bản thân; đồng thời có nhiều cơ hội để phát biểu trước tập thể. Kỹ năng đọc của trẻ được phát triển song song qua hai hình thức: ghi nhớ kiểu chụp ảnh các từ và ghép vần chữ cái. Trẻ được tắm mình trong môi trường chữ viết phong phú với các trò chơi ngôn ngữ, các thẻ chữ cái, thẻ từ, thẻ hình và các loại sách truyện theo từng trình độ. Đồng thời, kỹ năng viết cũng được phát triển theo đúng khả năng điều khiển của não bộ. Việc bồi dưỡng và phát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết được thực hiện hàng ngày trong mọi hoạt động theo nguyên tắc "dạy trong linh hoạt, học trong trò chơi, người dạy có chủ ý mà người học thì vô thức" , giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên với sự thích thú và say mê.
Chương trình Tiếng Anh - ESL được thiết kế và tích hợp nhằm hỗ trợ việc học tiếng Anh với đầy đủ nội dung, chủ điểm. Giáo trình tích hợp, hoạt động phong phú nhằm phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách toàn diện. Trong khi khám phá các chủ đề và phát triển các kĩ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) cùng đội ngũ Giáo viên quốc tế người bản xứ và Giáo viên Việt Nam, trẻ đồng thời được thực hành các kỹ năng diễn đạt bằng lời, khả năng tương tác, tư duy phản biện, diễn đạt sáng tạo, trực quan so sánh, kỹ năng, kỷ xảo. Tiếng Anh không chỉ được sử dụng trong giờ học ESL mà còn được vận dụng trong các hoạt động hằng ngày; qua các trò chơi, qua âm nhạc và đọc sách.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
1. Hiểu: Trẻ hiểu ngôn ngữ.
2. Nói: Trẻ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ, chia sẻ, yêu cầu.
3. Từ vựng: Trẻ hiểu và sử dụng đa dạng các từ vựng và cụm từ.
4. Nhận thức về ngữ âm: Trẻ nhận biết được các âm thanh riêng biệt của ngôn ngữ nói.
5. Kiến thức về chữ cái: Trẻ nhận biết và phát âm được chữ cái.
6. Đọc sách: Trẻ đọc để giải trí và biết thông tin.
7. Viết: Trẻ viết với nhiều mục đích khác nhau.
8. Học tiếng Anh: Trẻ có thể sử dụng từ vựng và giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh.
2. LĨNH VỰC TOÁN HỌC
Chương trình Toán học được phát triển song song giữa việc hiểu bản chất các số và các phép toán như: nhớ thẻ chấm hoặc học đếm số lượng với việc tính nhanh dựa trên các quy ước về số. Các khái niệm về chuỗi cũng được đưa vào để trẻ hiểu các quy luật của toán học và của tự nhiên. Trẻ cũng được làm quen với các hoạt động phân tích và xử lý số liệu từ cơ bản như biết ghép đôi các vật đến việc lập và đọc được các biểu đồ đơn giản. Chương trình hình học và không gian sẽ giúp trẻ tìm hiểu về đặc tính của các hình 2D, 3D và phát triển các khả năng định hướng trong không gian.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
9. Chữ số & biểu tượng chữ số: Trẻ nhận diện và sử dụng chữ số và biểu tượng chữ số.
10. Đếm: Trẻ đếm được nhiều vật xung quanh.
11. Mối quan hệ một phần-toàn bộ: Trẻ kết hợp và phân loại số lượng các đối tượng.
12. Hình dạng: Trẻ nhận diện, gọi tên và mô tả các hình dạng.
13. Nhận thức không gian: Trẻ nhận biết mối quan hệ không gian giữa con người và các đối tượng, có khả năng định hướng trong không gian.
14. Đo lường: Trẻ đo lường, mô tả, so sánh và sắp xếp thứ tự các đối tượng.
15. Đơn vị tính: Trẻ hiểu và ứng dụng khái niệm đơn vị tính.
16. Khuôn mẫu: Trẻ nhận diện, mô tả, sao chép, hoàn thành và sáng tạo các khuôn mẫu.
17. Phân tích dữ liệu: Trẻ sử dụng thông tin về số lượng để đưa ra kết luận, quyết định và giải quyết vấn đề. 
3. LĨNH VỰC ÂM NHẠC & HỘI HOẠ
Chương trình âm nhạc giúp trẻ phát triển độ nhạy cảm đối với vẻ đẹp của âm nhạc từ rất sớm qua việc thường xuyên được tiếp xúc với các bản nhạc ở các thể loại khác nhau. Ở giai đoạn tiếp theo, trẻ được giới thiệu về các đặc tính của âm nhạc một cách nhẹ nhàng và đầy hứng thú thông qua các trò chơi và những trải nghiệm thực tế với các nhạc cụ và các dụng cụ âm nhạc. Từ đó giúp trẻ hiểu và cảm thụ âm nhạc một cách tự nhiên và khoa học. Thông qua âm nhạc, trẻ cũng được khuyến khích diễn đạt các cảm xúc, ý nghĩ về bản thân và về thế giới xung quanh mình.
Trẻ sẽ được làm quen với các học cụ, chất liệu và kỹ thuật của hội họa. Với các trải nghiệm về hoạt động hội họa phong phú, trẻ sẽ phát triển các khả năng sáng tạo và diễn đạt cảm xúc, ý tưởng của mình. Chương trình hội họa sẽ giúp trẻ làm quen với các thành phần của hội họa như đường nét, mảng miếng, màu sắc, chất liệu, hình khối, bố cục cũng như các nguyên lý cơ bản của môn nghệ thuật này. Đồng thời, trẻ bắt đầu làm quen với việc đánh giá và cảm thụ nghệ thuật cũng như hiểu được vai trò của hội họa trong cuộc sống.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
18. Nghệ thuật: Trẻ miêu tả và thể hiện lại những gì trẻ quan sát, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận thông qua nghệ thuật hai chiều, nghệ thuật ba chiều.
19. Âm nhạc: Trẻ miêu tả và thể hiện lại những gì trẻ quan sát, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận thông qua âm nhạc.
20. Vận động: Trẻ miêu tả và thể hiện lại những gì trẻ quan sát, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận thông qua vận động.
21. Chơi giả vờ: Trẻ miêu tả và thể hiện lại những gì trẻ quan sát, suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận thông qua các trò chơi giả vờ.
22. Thưởng thức mỹ thuật: Trẻ biết thưởng thức mỹ thuật sáng tạo. 
4. LĨNH VỰC GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Chương trình thể chất và phát triển các giác quan giúp trẻ phát triển các kỹ năng cơ bản như điều khiển cơ thể, kỹ năng chuyển động, giữ thăng bằng và nhận thức về chuyển động trong không gian. Thông qua các trò chơi thể chất, trẻ cũng học được cách chuyển động an toàn và rèn luyện kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm. Các phần thể chất bao gồm: phát triển các vận động thô và vận động tinh; tập giữ thăng bằng trên các dụng cụ; thể dục nhịp điệu và Yoga.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
23. Vận động thô: Trẻ thể hiện sức mạnh, tính linh hoạt, sự cân bằng, và tính dẻo dai khi vận động các cơ lớn.
24. Vận động tinh: Trẻ thể hiện sự khéo léo và phối hợp tay-mắt khi sử dụng cơ bắp nhỏ.
25. Nhận thức về cơ thể: Trẻ nhận biết về cơ thể và làm thế nào để định hướng cơ thể trong không gian.
26. Chăm sóc bản thân: Trẻ tự thực hiện việc chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày.
27. Hành vi lành mạnh: Trẻ tham gia các hoạt động lành mạnh. 
5. LĨNH VỰC XÃ HỘI, CỘNG ĐỒNG & CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Chương trình xã hội, cộng đồng cung cấp cho trẻ những quan niệm, kiến thức về văn hóa, lễ hội, lịch sử, địa lý... phù hợp với khả năng của trẻ. Ở giai đoạn đầu, trẻ được giới thiệu và ghi nhớ các kiến thức xã hội theo kiểu "đàn gảy tai trâu" và đến giai đoạn sau, trẻ được khuyến khích tiến hành các dự án nghiên cứu nhỏ dưới sự hỗ trợ của người lớn.
Chương trình Công nghệ thông tin (ICT) giúp trẻ làm quen với bàn phím, tập sử dụng máy tính, tập gõ bằng tay, chơi trò chơi, học đếm, học vẽ, học tiếng Anh trên máy tính. Phần mềm Ngôi nhà Toán học của Millie với bảy hoạt động dưới dạng trò chơi sẽ giúp trẻ học về các con số, cách đếm, phép cộng trừ, mô hình, giải câu đố, kích thước, các dạng hình học. Với Ngôi nhà Khoa học Sammy, trẻ được thực tập khả năng phân loại, sắp xếp thứ tự, quan sát, dự đoán và xây dựng qua năm trò chơi hấp dẫn. Ngôi nhà Không gian và Thời gian của Trudy giúp trẻ phát triển kỹ năng nhận biết thời gian và địa lý, qua đó xây dựng một nền tảng vững chắc cho các môn khoa học xã hội sau này. Phần mềm Thế giới sôi động Thinkin'Things 1, 2 và 3 được thiết kế để cung cấp cho các em học sinh nhỏ tuổi các kỹ năng tư duy đa dạng: ghi nhớ, suy nghĩ phản biện, giải quyết vấn đề và sáng tạo.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
28. Sự đa dạng: Trẻ nhận thức được mọi người có đặc điểm, sở thích và khả năng khác nhau.
29. Vai trò của cộng đồng: Trẻ nhận ra rằng mọi người có vai trò và chức năng khác nhau trong cộng đồng.
30. Ra quyết định: Trẻ tham gia vào việc ra quyết định trong các hoạt động tại lớp học.
31. Địa lý: Trẻ nhận ra và giải thích các tính năng và một số địa điểm trong môi trường.
32. Lịch sử: Trẻ hiểu biết về quá khứ, hiện tại và tương lai.
33. Sinh thái học: Trẻ hiểu được tầm quan trọng của việc chăm sóc và bảo vệ môi trường. 
6. LĨNH VỰC KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
Chương trình khoa học kỹ thuật giúp trẻ làm quen với những thí nghiệm, quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin bằng cách sử dụng các giác quan của mình. Trẻ sẽ biết sử dụng các thông tin đó để nhận diện một số quy luật đơn giản, phỏng đoán và thảo luận các ý tưởng của mình. Trẻ sẽ có những nhận thức tốt và phát triển ý thức tôn trọng bản thân, tôn trọng các sinh vật khác và bảo vệ môi trường.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
34. Quan sát: Trẻ quan sát các tài nguyên và quy trình trong môi trường xung quanh trẻ.
35. Phân loại: Trẻ phân loại tài nguyên, hành động, con người và sự kiện.
36. Thí nghiệm: Trẻ làm thí nghiệm để thử nghiệm các ý tưởng của mình.
37. Dự đoán: Trẻ dự đoán những gì mong đợi sẽ xảy ra.
38. Rút ra kết luận: Trẻ đưa ra kết luận dựa trên kinh nghiệm và quan sát của mình.
39. Diễn đạt ý tưởng: Trẻ diễn đạt ý tưởng của mình về đặc điểm của sự vật và cách thức chúng hoạt động.
40. Thế giới tự nhiên và vũ trụ vật chất: Trẻ thu thập kiến thức về thế giới tự nhiên và vũ trụ vật chất.
41. Các công cụ và công nghệ: Trẻ khám phá và sử dụng các công cụ và công nghệ. 
7. LĨNH VỰC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH & KỸ NĂNG SỐNG
Chương trình giáo dục nhân cách và kỹ năng sống được tích hợp trong từng hoạt động hàng ngày và được thể hiện rất rõ trong từng lĩnh vực nêu trên. Trẻ được phát triển những nhận thức về bản thân, những kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe, vệ sinh, dinh dưỡng và sự an toàn. Trẻ được hình thành các thái độ tích cực, các giá trị và phẩm chất đạo đức tốt cho bản thân mình, đồng thời phát triển các khả năng giao tiếp xã hội hiệu quả.
Các kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự học, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng suy nghĩ, kỹ năng tự quản lý bản thân, kỹ năng tương tác với mọi người (lãnh đạo, hợp tác, phát biểu trước đám đông…) được hình thành và phát triển qua các sinh hoạt, học tập và vui chơi mỗi ngày ở trường.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
42. Nhận thức bản thân: Trẻ có thái độ tích cực về nhận thức bản thân.
43. Ý thức về năng lực bản thân: Trẻ cảm nhận mình có năng lực.
44. Cảm xúc: Trẻ nhận ra, gọi tên và điều tiết cảm xúc của mình.
45. Sự đồng cảm: Trẻ chia sẻ sự đồng cảm với người khác.
46. Cộng đồng: Trẻ tham gia vào cộng đồng lớp học.
47. Xây dựng quan hệ: Trẻ xây dựng mối quan hệ tốt với bạn và với người lớn.
48. Chơi hoà đồng, cộng tác với bạn: Trẻ tham gia vui chơi hoà đồng và hợp tác trong tập thể.
49. Phát triển đạo đức: Trẻ được phát triển tốt về nhận thức đúng, sai.
50. Giải quyết xung đột: Trẻ giải quyết xung đột trong tập thể. 
8. KỸ NĂNG HỌC TẬP SUỐT ĐỜI
Trong những năm đầu đời, trẻ cần được hướng dẫn, rèn luyện những kỹ năng học tập làm nền tảng cho việc học sau này. Chương trình GIÁO DỤC SỚM 0 TUỔI giúp trẻ hình thành nên những thói quen học tập và phương pháp tiếp cận, làm thế nào để trẻ có được kiến thức và nắm vững kỹ năng, định hướng kinh nghiệm học tập trong các lĩnh vực nội dung khác. Chương trình cung cấp kinh nghiệm cho trẻ nhằm giúp từng trẻ thích ứng với phong cách học tập phù hợp và giúp đỡ trẻ phát triển khả năng để thực hiện các nhiệm vụ học tập và giải quyết vấn đề với sự tự tin, linh hoạt, và kiên trì.
CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG (Key Developmental Indicators)
51. Chủ động: Trẻ thể hiện sáng kiến ​​khi khám phá thế giới xung quanh.
52. Kế hoạch: Trẻ tham gia lập kế hoạch và theo dõi việc thực hiện kế hoạch theo ý định của trẻ.
53. Tham gia: Trẻ tập trung vào các hoạt động mà trẻ quan tâm.
54. Giải quyết vấn đề: Trẻ giải quyết các vấn đề gặp phải khi chơi.
55. Sử dụng các nguồn lực: Trẻ thu thập thông tin và xây dựng ý tưởng về môi trường.
56. Phản ánh: Những kinh nghiệm của trẻ phản ánh đúng bản thân trẻ.

Trí thông minh được dùng để giải quyết nhiều vấn đề, cũng có thể mang lại cho mọi người niềm vui vào bất kỳ thời khắc nào, nhưng phẩm chất của trí thông minh ở trẻ nhỏ chưa được định hình ngay từ nhỏ. Mặc dù cánh cửa phát triển trí thông minh đa dạng không phải đóng lại, nhưng tất cả trí thông minh đều từ giai đoạn đầu của đời người mà phát triển nên. Ở thời ấu thơ là thời kỳ phát triển trí thông minh, có thể phát triển trẻ mang trí thông minh bác học sau này, hoặc cũng có thể phát triển trí thông minh ấy để sống một cách vui vẻ.
Bởi vì trẻ có 8 loại trí thông minh khác nhau, nên bố mẹ cần căn cứ vào mỗi kiểu thông minh để cho trẻ những trải nghiệm, hoàn cảnh và cơ hội. Chúng ta biết rằng trẻ có sẵn năng lực nhất định ở mọi phương diện, bố mẹ có chắc đảm bảo trẻ có cơ hội tìm tòi mỗi loại trí thông minh (không chỉ giới hạn ở những cơ hội mà cha mẹ có thể dễ dàng tạo ra cho trẻ) đây là điểm hết sức quan trọng.

Dựa vào khái niệm của các trí thông minh và những hoạt động rèn luyện tương quan ở bảng dưới đây để tham khảo:


Bởi vì phụ huynh là đối tượng bắt chước của trẻ em, do đó chúng ta cần chú ý mỗi việc chúng ta làm, cần phải phát triển sự tín nhiệm của trẻ với bố mẹ. Xem tất cả những trí năng mà phụ huynh vận dụng, đứa trẻ sẽ hiểu được rằng mỗi một trí năng có giá trị của nó và mỗi trí năng đều có thể học được. Trong khi phát triển trí năng của trẻ, cần có sự tham gia của phụ huynh, có tác dụng tương trợ trẻ. Những bài học có được nhờ sự huấn luyện của chuyên gia giảng dạy và phương pháp rèn luyện trí năng nên đương nhiên rất là có ích, nhưng không có cách nào tốt bằng bố mẹ cùng học tập với trẻ.
Kiến nghị: Phụ huynh nhất thiết phải thực hiện những điều sau:

•    Mỗi 1 phụ huynh đều phải xây dựng nhận thức “Mối đứa trẻ đều có thể rất thông minh”
•    Phụ huynh cũng cần phải hiểu bản chất thực sự của trí năng trong bản thân mỗi chúng ta, xem xem những việc nào bản thân thấy thành thạo nhất, việc nào bản thân muốn trốn tránh?
Một khi bạn đã hiểu được những trí năng mà bạn có, bạn có thể trợ giúp trong việc xác nhận đứa trẻ của bạn đã chịu những ảnh hưởng nào. Không chừng những điều bạn gây ảnh hưởng đến đứa trẻ, không phải là những mặt bạn thành thạo nhất, nhưng đối với đứa trẻ mà nói, thì những mặt đó lại rất mạnh mẽ. Để đạt được mục đích này, có lẽ bạn phải mời những người bạn có chuyên môn đặc biệt của bạn hoặc những người thân thích tiếp xúc nhiều hơn 1 chút với con bạn. Hành động này sẽ giúp bồi dưỡng những cơ hội và kinh nghiệm mà trẻ cần.

Nguồn: Tài liệu giáo dục sớm của Viện VICER
Đánh giá trí thông minh đa dạng qua trắc nghiệm gen vân tay của Đạo Mông

More

Like Us

Whats Hot